Share:
Nhìn lại LỊCH SỬ Việt Nam thời "Tiền Gia Long", giai đoạn 1771 - 1802.
Nhìn lại LỊCH SỬ Việt Nam thời "Tiền Gia Long", giai đoạn 1771 - 1802.
Sách Việt Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim.
Sau một thời gian mạng xã hội râm ran câu chuyện láo toét của Chu Lai trong 'mưa đỏ', tôi đã vứt hai chử mưa đỏ vào sọt rác. Thế nhưng, bổng dưng cũng mạng xã hội nổi lên câu chuyện bôi bác cụ Tả quân Lê văn Duyệt, một công thần của vua Gia long.
Tôi không rảnh hơi để đọc thể loại tiểu thuyết tuyên truyền rẻ tiền như mưa đỏ, nhưng qua mạng xã hội cho biết, Chu Lai cũng từng lặp lại quan điểm kết tội ông Nguyễn Ánh là loại "cỏng rắn cắn gà nha, rước voi dày mả tổ̀' như trong sách giáo khoa hiện nay; sẽ không có gi gượng ép khi liên tưởng việc đánh phá nhà Nguyễn có liên quan đến việc mưa đỏ sắp chu du ra thế giới với giải Oscar !?
Vì vậy, tôi copy lại đây một số câu chuyện liên quan đến giai đoạn lịch sử thời "tiền Gia Long" từ cuốn sách Việt Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim, để mọi người rộng đường nhận định về công lao của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.
1.Tây Sơn Dấy Binh.
Lúc bấy giờ ở huyện Phù Ly (nay đổi là Phù Cát) đất Quy Nhơn, có người tên là Nguyễn Nhạc khởi binh phản đối chúa Nguyễn.
Nguyên ông tổ bốn đời của Nguyễn Nhạc là họ Hồ cùng một tổ với Hồ Quý Ly ngày trước, người ở huyện Hưng Nguyên, đất Nghệ An, gặp lúc chúa Trịnh, chúa Nguyễn đánh nhau, bị bắt đem vào ở ấp Tây Sơn thuộc đất Quy Nhơn. Đến đời ông thân sinh là Hồ Phi Phúc dời nhà sang ở ấp Kiên Thành, nay là làng Phú Lạc, huyện Tuy Viễn, sinh được 3 người con: trưởng là Nhạc, thứ là Lữ, thứ ba là Huệ.
Anh em ông Nhạc muốn khởi loạn, mới lấy họ mẹ là Nguyễn để khởi sự cho dễ thu phục nhân tâm, vì rằng đất trong Nam vẫn là đất của chúa Nguyễn. Bấy giờ lại có mấy người khách buôn (người gốc Quảng đông, Trung quốc) tên là Tập Đình và Lý Tài cũng mộ quân nổi lên theo giúp Tây Sơn.
Nguyễn Nhạc sai Tập Đình làm tiên phong, Lý Tài làm trung quân, tự mình làm hậu tập ra đánh nhau với quân họ Trịnh ở làng Cẩm Sa (thuộc Hòa Vinh). Quân của Tập Đình đều là người khách Quảng Đông và những người mọi to lớn, ai nấy cởi trần ra đội khăn đỏ cầm phang, đeo khiên, đánh thật là hung mạnh. Quân tiền đội của họ Trịnh đương không nổi, mới sai Hoàng Đình Thể và Hoàng Phùng Cơ đem kỵ binh vào xông trận, rồi bộ binh đánh tràn vào. Tập Đình thua chạy. Nguyễn Nhạc và Lý Tài phải lùi về giữ bến Bản rồi đưa Đông Cung về Quy Nhơn. Tập Đình vốn là người bạo ngược, Nguyễn Nhạc muốn nhân dịp thua trận bắt giết đi. Tập Đình biết ý bỏ chạy về Quảng Đông bị quan nhà Thanh bắt được đem chém.
Hoàng Ngũ Phúc của quân Trịnh muốn dùng Nguyễn Nhạc để đánh đất Gia Định, bèn làm biểu xin chúa Trịnh cho Nguyễn Nhạc làm tiên phong tướng quân, Tây Sơn Hiệu trưởng, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem cờ và ấn kiếm vào cho Nguyễn Nhạc.
2. Chúa Nguyễn vào Gia Định.
Chúa Nguyễn Phúc Thuần (đời Chúa thứ 9) rời Thuận Hóa vào đến Quảng Nam đóng ở Bến Vân, lập cháu là Nguyễn Phúc Dương lên làm đông cung, để lo việc đánh giặc. Được mấy tháng quân Tây Sơn ở Quy Nhơn kéo ra đánh lấy Quảng Nam, quân Chúa Nguyễn đánh không nổi, thua chạy về đóng ở Trà Sơn.
Chúa Nguyễn liệu chừng không chống giữ được, bèn cùng người cháu là ông Nguyễn Phúc Ánh xuống thuyền chạy vào Gia Định, để Đông Cung ở lại Quảng Nam chống giữ với giặc. Đông cung đóng đồn ở làng Câu Để (thuộc huyện Hòa Vinh).
Nguyễn Nhạc thấy thế mình một ngày một mạnh, bèn sai sửa lại thành Đồ Bàn (là kinh thành cũ của Chiêm Thành ngày trước) rồi đến tháng ba năm bính thân (1776) tự xưng làm Tây Sơn Vương và phong chức tước cho mọi người. Bấy giờ Tây Sơn đem Đông Cung của nhà Nguyễn ra ở chùa Thập Tháp. Đông Cung bèn trốn xuống thuyền chạy về Gia Định.
Người khách Lý Tài trước đã bỏ Nguyễn Nhạc theo giúp chúa Nguyễn, rồi sau phản lại, đánh chúa Nguyễn, nay nghe Đông cung trốn về, lại đem binh rước về Sài Côn lập lên làm Tân Chính Vương, tôn Định Vương làm Thái Thượng Vương để cùng lo sự khôi phục.
Năm đinh dậu (1777) Nguyễn Nhạc sai người ra xin với chúa Trịnh cho trấn thủ đất Quảng Nam, Trịnh Sâm bấy giờ cũng chán sự dụng binh, bèn nhân dịp phong cho Nguyễn Nhạc làm Quảng Nam trấn thủ, Tuyên Úy đại sứ, Cung Quận Công.
Nguyễn Nhạc bèn sai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem thủy bộ quân vào đánh Gia Định. Lý Tài chống không nổi phải bỏ chạy. Tân Chính Vương chạy về bến Trà (thuộc Định Tường) rồi lại chạy về Ba vát (thuộc Vĩnh Long), còn Thái Thượng Vương thì chạy về Long Xuyên. Nhưng chẳng bao lâu Nguyễn Huệ đem quân đuổi bắt được cả Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương, đem giết đi.
Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ lấy xong đất Gia Định, để tổng đốc Chu ở lại trấn thủ, rồi đem quân về Quy Nhơn. Qua năm sau là năm mậu tuất (1778) Nguyễn Nhạc tự xưng đế hiệu, đặt niên hiệu là Thái Đức, gọi thành Đồ Bàn là Hoàng Đế Thành, phong cho Nguyễn Lữ làm Tiết Chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhượng Tướng Quân.
3. Nguyễn Ánh Định Cầu Viện Nước Pháp Lan Tây.
Lúc bấy giờ lương thực hết sạch, Nguyễn Ánh cùng với những người đi theo phải hái rau và tìm củ chuối mà ăn, thế lực cùng kiệt, thật là nguy nan quá. Nhân vì khi trước Nguyễn Ánh có quen một người nước Pháp làm giám mục đạo Gia Tô, tên là Bá Đa Lộc (Pierre Pigneau de Béhaine, évêque d'Adran) khi ấy đang ở đất Chantaboun (thuộc nước Tiêm La), ngài bèn sai người đến bàn việc. Ông Bá Đa Lộc nói nên sang cầu cứu nước Pháp, nhưng phải cho Hoàng Tử đi làm tin thì mới được.
Nguyễn Ánh theo lời ấy, bèn giao Hoàng Tử Cảnh và cái quốc ấn cho ông Bá Đa Lộc, lại làm tờ quốc thư cho ông ấy được quyền tự tiện sang thương nghị với chính phủ Pháp để xin viện binh.
Tờ quốc thư ấy có 14 khoản, đại lược nói nhờ ông Bá Đa Lộc sang xin nước Pháp giúp cho 1500 quân và tàu bè, súng ống, thuốc đạn, đủ mọi cảc thứ. Nguyễn Ánh xin nhường cho nước Pháp cửa Hội An (Faifo), đảo Côn Nôn và để riêng cho người nước Pháp được đặc quyền vào buôn bán ở nước Nam .
Nguyễn Ánh lại làm một cái thư riêng để dâng cho vua nước Pháp, và sai quan phó vệ úy là Phạm Văn Nhân, quan cai cơ là Nguyễn Văn Liêm theo hộ vệ Hoàng Tử Cảnh bấy giờ mới có 4 tuổi.
Vua Gia Long...hình internet.
Mọi sự đã xếp đặt cả rồi, nhưng vì còn trái mùa gió cho nên ông Bá Đa Lộc chưa khởi hành được. Nguyễn Ánh tuy đã nghe lời ông Bá Đa Lộc định sang cầu cứu nước Pháp, nhưng trong bụng chưa quyết hẳn, còn có ý muốn nhờ nước Tiêm La.
Nguyên lúc đánh thua ở Sài Côn, Châu Văn Tiếp chạy sang Tiêm La cầu cứu. Đến tháng 2 năm giáp thìn (1784) vua Tiêm La sai tướng là Chất Si Đa đem thủy quân sang Hà Tiên, tìm Nguyễn Ánh để mời sang bàn việc. Nguyễn Ánh lại tiếp được mật biểu của Châu Văn Tiếp, cho nên mới đến hội với tướng nước Tiêm, rồi cùng sang Vọng Các xin binh cứu viện.
Tiêm Vương tiếp đãi Nguyễn Ánh rất hậu, và sai hai tướng là Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem hai vạn quân cùng 300 chiếc thuyền sang giúp Nguyễn Ánh. Quân Tiêm La sang lấy được Rạch Giá, Ba thắc, Trà Ôn, Mân thít, Sa đéc. Khi đánh ở Mân thít, Châu Văn Tiếp bị thương nặng mà mất. Từ đó quân Tiêm ỷ thế đi đến đâu quấy nhiễu dân sự, làm nhiều điều tàn ác, cho nên lòng người oán hận lắm.
4. Nguyễn Huệ Phá Quân Tiêm La.
Tướng Tây Sơn giữ đất Gia Định là Trương Văn Đa, thấy quân Tiêm La sang đánh phá, thế lực mạnh lắm, bèn sai người về Quy Nhơn phi báo. Vua Tây Sơn sai Nguyễn Huệ đem binh vào chống giữ.
Nguyễn Huệ vào đến Gia Định nhử quân Tiêm La đến gần Rạch Gầm và Xoài mút ở phía trên Mỹ Tho, rồi đánh phá một trận, giết quân Tiêm chỉ còn được vài nghìn người, chạy theo đường thượng đạo trốn về nước.
Nguyễn Huệ phá được quân Tiêm La rồi, đem binh đuổi đánh Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh bấy giờ hết cả lương thực, cùng với mấy người chạy về Trấn Giang, ra đảo Thổ Châu, đảo Cổ Cốt, rồi sang Tiêm La.
Đánh dẹp xong, Nguyễn Huệ đem quân về Quy Nhơn để đô đốc là Đặng Văn Chân ở lại trấn đất Gia Định.
Nguyễn Ánh biết thế không mong cậy được người Tiêm La, bèn giục ông Bá Đa Lộc đem Hoàng tử đi sang nước Pháp cầu viện. Ông Bá Đa Lộc đi rồi, Nguyễn Ánh rước vương mẫu và cung quyến sang trú ở Vọng Các để chờ có cơ hội lại về khôi phục.
5.Tây Sơn Lấy Thuận Hóa.
Nguyên khi trước Hoàng Đình Bảo của chúa Trịnh trấn thủ đất Nghệ An, có nhiều thủ hạ giỏi, mà trong bọn ấy có một người ở huyện Chân Lộc, thuộc Nghệ An, tên là Nguyễn Hữu Chỉnh, đỗ hương cống từ lúc 16 tuổi, tục gọi là cống Chỉnh, tính hào hoa, lắm cơ trí, nhiều can đảm, mà lại có tài biện bác. Trước theo Hoàng Ngũ Phúc, thường đi đánh giặc bể, giặc sợ lắm, gọi là chim dữ; sau khi Hoàng Ngũ Phúc mất rồi, Hữu Chỉnh về theo Hoàng Đình Bảo.
Đến khi loạn kiêu binh đã giết Hoàng Đình Bảo rồi, có người đem tin Hữu Chỉnh biết, Hữu Chỉnh vào bàn với quan trấn thủ Nghệ An là Võ Tá Giao để tự lập ở xứ Nghệ, nhưng mà Võ Tá Giao sợ không dám làm, Hữu Chỉnh bèn bỏ vào với vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc.
Nguyên khi trước Nguyễn Hữu Chỉnh theo Hoàng Ngũ Phúc vào đánh Quảng Nam thường vẫn đi lại quen Nguyễn Nhạc, cho nên Nguyễn Nhạc tin dùng, đãi làm thượng khách. Từ đó Nguyễn Hữu Chỉnh bày mưu định kế xin vua Tây Sơn ra đánh Thuận Hóa và đất Bắc Hà.
Vua Tây Sơn biết đất Thuận Hoá không phòng bị, bèn sai em là Nguyễn Huệ làm tiết chế, rể là Vũ Văn Nhậm làm tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu quân đô đốc, đem quân thủy bộ ra đánh Thuận Hóa.
Hữu Chỉnh nói: "Nay Bắc Hà có vua lại có chúa, ấy là một sự cổ kim đại biến. Họ Trịnh tiếng rằng phù Lê, thực là hiếp chế, cả nước không ai phục. Vả xưa nay không ai làm gì để giúp nhà Lê, là chỉ sợ cái thế mạnh đó mà thôi, nay ông mà, phù Lê diệt Trịnh thì thiên hạ ai chẳng theo ông." Nguyễn Huệ nói: "Ông nói phải lắm, nhưng ta chỉ phụng mệnh đi đánh đất Thuận Hóa mà thôi, chứ không phụng mệnh đi đánh Bắc Hà, sợ rồi can tội kiêu mệnh thì làm thế nào ?" Hữu Chỉnh nói: "Kiêu mệnh là tội nhỏ, việc ông làm là công to. Vả làm tướng ở ngoài có điều không cần phải theo mệnh vua, ông lại không biết hay sao?"
Bấy giờ ở kinh thành thì quân kiêu binh không sai khiến được, mà quân Tây Sơn thì đã đến nơi rồi. Trịnh Khải mới cho gọi Hoàng Phùng Cơ, ở Sơn Tây về, đem quân đóng ở hồ Vạn Xuân (xã Vạn Phú, Thanh Trì) còn thủy binh thì đóng ở bến Tây Long (Thọ Xương) để phòng giữ. Quân Tây Sơn tiến lên đánh tan thủy quân của nhà Trịnh, Hoàng Phùng Cơ phải bỏ chạy. Trịnh Khải mặc áo nhung y cầm cờ lên voi thúc quân vào đánh, nhưng thế Tây Sơn mạnh lắm, đánh không được, Trịnh Khải bỏ chạy lên Sơn Tây. Đi đến làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, gặp tên Nguyễn Trang đánh lừa bắt đem nộp cho Tây Sơn. Trịnh Khải về đến làng Nhất Chiêu lấy gươm cắt cổ tự vận. Bấy giờ là năm bính ngọ (1786). Nguyễn Huệ cho lấy vương lễ mà tống táng cho chúa Trịnh, rồi vào thành Thăng Long yết kiến vua Lê.
Họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng lên, rồi giữ lấy quyền chính, lập ra nghiệp chúa, lưu truyền từ Trịnh Tùng đến Trịnh Khải được 216 năm (1570 - 1786) đến đấy là hết.
Bấy giờ vua Lê Hiển Tông đang đau, không ngồi dậy tiếp được, ngài mời Nguyễn Huệ vào ngồi gần sập ngự, lấy lời ôn tồn mà phủ dụ. Nguyễn Huệ tâu bày cái lẽ đem binh rà phù Lê diệt Trịnh, chứ không dám có ý dòm ngó gì. Vua mừng rỡ mà tạ Nguyễn Huệ.
Khi quân Tây Sơn ra đến Thăng Long, các quan triều thần chạy trốn cả, chỉ còn có mấy người nội giám ở lại hầu hạ vua. Nguyễn Hữu Chỉnh thấy vậy vào tâu với vua xin xuống chiếu tuyên triệu các quan về triều; được mấy hôm có độ mươi người lục tục kéo nhau trở về. Vua bèn định đến ngày mồng 7 tháng 7 lập đại trào ở điện Kính Thiên, Nguyễn Huệ đem các tướng vào lạy và dâng sổ quân sĩ, dân đinh, để tỏ rõ cái nghĩa tôn phù nhất thống, nghĩa là tự đó về sau nhà Lê có quyền tự chủ.
Vua phong cho Nguyễn Huệ làm Nguyên Soái Uy Quốc Công, và lại gả bà Ngọc Hân Công Chúa là con gái của ngài cho Nguyễn Huệ. Chẳng bao lâu vua Hiển Tông mất, Hoàng Tôn là Duy Kỳ lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Chiêu Thống.
Bấy giờ quyền bính ở đất Bắc Hà về cả vua nhà Lê, thật là một cơ hội ít có để lập lại cái nền tự chủ của nhà Lê, nhưng tiếc vì vua Chiêu Thống không có tài quyết đoán, mà đình thần lúc bấy giờ không có ai là người biết kinh luân: hễ thấy có giặc thì bỏ chạy, giặc đi rồi thì kéo nhau ra bàn ngược bàn xuôi, người thì định lập lại nghiệp chúa, kẻ thì muốn tôn phù nhà vua. Lại có dòng dõi họ Trịnh là Trịnh Lệ và Trịnh Bồng chia đảng ra đánh nhau để tranh quyền. Vua Chiêu Thống bất đắc dĩ phải phong cho Trịnh Bồng làm Án Đô Vương, lập lại phủ Chúa. Đảng họ Trịnh lại toan đường hiếp chế nhà vua, vua Chiêu Thống phải xuống mật chiếu vời Nguyễn Hữu Chỉnh ra giúp.
6. Nguyễn Hữu Chỉnh Chuyên Quyền ở Đất Bắc.
Nguyễn Hữu Chỉnh từ khi trở về Nghệ An, chiêu mộ dũng sĩ, ngày đêm luyện tập, nhân có chiếu nhà vua gọi vào, bèn thu xếp được hơn một vạn quân ra giúp vua Lê. Trịnh Bồng đem quân ra chống giữ, đánh thua phải bỏ chạy. Hữu Chỉnh vào yết kiến vua Chiêu Thống và chuyên giữ binh quyền.
Ở trong Nam, từ khi vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc về Quy Nhơn rồi, tự xưng làm Trung ương Hoàng Đê, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở đất Gia Định, cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, ở đất Thuận Hóa, lấy Hải Vân Sơn làm ranh giới.
Được ít lâu Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ có chuyện hiềm khích với nhau, Nguyễn Huệ đem binh vào vây đánh thành Qui Nhơn. Trong khi anh em Tây Sơn đánh nhau, thì Nguyễn Hữu Chỉnh ra Bắc Hà, đến khi anh em Tây Sơn đã giảng hòa, Nguyễn Huệ ở Phú Xuân thấy Hữu Chỉnh lừng lẫy ở đất Bắc, bèn sai Vũ Văn Nhậm ra bắt.
Tháng 11 năm đinh tị (1787) Vũ Văn Nhậm phá quân Nguyễn Hữu Chỉnh ở Thanh Quyết Giang (làng Thanh Quyết, huyện Gia Viễn), và ở Châu Cầu ( phủ Lý Nhân) rồi đánh đuổi ra đến Thăng Long.
Vua Chiêu Thống thấy quân của Nguyễn Hữu Chỉnh đã thua rồi, bèn bỏ Kinh đô, chạy sang Kinh bắc, và sai Lê Quýnh cùng với hơn 30 người tôn thất đem bà Hoàng Thái Hậu, bà Hoàng Phi và Hoàng Tử lên Cao Bằng. Còn vua thì cùng với Hữu Chỉnh về đóng ở núi Mục Sơn ở đất Yên Thế.
Tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Hòa đem binh lên đánh bắt được Hữu Chỉnh đem về làm tội ở Thăng Long.
Vũ Văn Nhậm giết Nguyễn Hữu Chỉnh rồi, cho đi tìm vua Chiêu Thống không được, bèn tôn Sùng Nhượng Công tên là Lê Duy Cẩn lên làm giám quốc để thu phục lòng người.
Khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh thì đã có lòng nghi Vũ Văn Nhậm, cho nên lại sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm tham tán quân vụ để chia bớt binh quyền. Đến khi Văn Nhậm lấy được Thăng Long, bắt được Hữu Chỉnh rồi, có ý cậy tài và ra bộ kiêu ngạo. Ngô Văn Sở đem ý ấy viết thư về nói Vũ Văn Nhậm muốn làm phản. Bắc Bình Vương lập tức truyền lệnh kéo quân kỵ, đêm ngày đi gấp ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi. Bắc Bình Vương đổi đặt quan quân, chỉnh đốn mọi việc xong, chọn ngày về Nam, để bọn Ngô Văn Sở ở lại giữ đất Bắc Hà.
Vua Chiêu Thống từ khi thua trận Mục Sơn chạy về núi Bảo Lộc, rồi nay ở Hải Dương, mai ở Sơn Nam, cùng với mấy người trung nghĩa lo sự khôi phục, nhưng vì thế lực mỗi ngày một kém, bề tôi như bọn Đinh Tích Nhưỡng thì giở mặt làm phản, còn thì ai nấy trốn tránh đi mất cả, bởi thế cho nên cơ nghiệp nhà Lê đổ nát vậy.
Nhà Lê kể từ vua Thái Tổ khởi nghĩa, đánh đuổi quân nhà Minh về Tàu, lập lại cái nền tự chủ cho nước nhà, truyền đến vua Chiêu Tông thì họ Mạc cướp mất ngôi. Sau nhờ có họ Nguyễn và họ Trịnh giúp đỡ, nhà Hậu Lê lại trung hưng lên, truyền đến vua Chiêu Thống tức là Mân Đế thì hết.
Sau vua Chiêu Thống và bà Hoàng Thái Hậu đi sang kêu cứu bên Tàu, vua nhà Thanh nhân lấy dịp ấy mượn tiếng cứu nhà Lê, để lấy nước Nam, bèn sai binh tướng sang giữ thành Thăng Long. Bấy giờ cứ theo như tờ mật dụ của vua nhà Thanh thì nước Nam ta, bề ngoài tuy chưa mất hẳn, nhưng kỳ thật đã vào tay người Tàu rồi.
Vận nước đã mất, thì phải lấy nước lại, ông Nguyễn Huệ mới lên ngôi Hoàng Đế ở Phú Xuân, truyền hịch đi các nơi, đường đường chính chính, đem quân ra đánh một trận phá 20 vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị phải bỏ cả ấn tín mà chạy, làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng sĩ nhà Thanh thất đảm. Tưởng từ xưa đến nay nước ta chưa có võ công nào lẫm liệt như vậy.
Tuy rằng chẳng được bao lâu nhà Nguyễn Tây Sơn sinh ra nội loạn, vua Thế Tổ Cao Hoàng nhà Nguyễn lại thu phục được cơ nghiệp cũ mà nhất thống cả nam bắc làm một, nhưng việc thành bại hưng vong là mệnh trời, vả lại khi hai người anh hùng đuổi một con hươu, tất là người nọ gọi người kia là cừu địch. Vậy lấy lể tôn bản triều mà xét thì nhà Nguyễn Tây Sơn là ngụy, nhưng lấy công lý mà suy thì vua Quang Trung Nguyễn Huệ là một ông vua cùng đứng ngang vai với vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Thái Tổ, nhà Nguyễn Tây Sơn cũng là một nhà chính thống như nhà Đinh và nhà Lê vậy.....(hết trích sách Việt nam sử lược của cụ Trân Trọng Kim.)
7. Tai sao các nhà làm sử ở Hà nội không dám nhìn nhận nhà Nguyễn Tây Sơn là ngụy như cụ Trần Trọng Kim ?
Tôi không học, không đọc sử do các nhà viết sử ở Hà nội viết. Tuy thế, hàng năm vào giữa tháng tám tôi "hạnh phúc" đói rả người được nghe 'chiếc đài' công cọng treo tuốt trên ngọn cây cao ra rả "chào mừng cách mạng tháng tám cướp chính quyền của nhân dân ta" !
"Cướp chính quyền" được đưa vào lịch sử chứng minh rằng các cán bộ hà nội khi đã chăn êm nệm ấm vẫn không quên cái hành vi ăn cướp chính quyền từ tay Bảo Đại. Họ vẫn nơm nớp lo sợ Bảo Đại theo chân tiền nhân phục dựng cơ đồ tổ tiên, như ông tổ của ông ấy là Thế Tổ Cao Hoàng đế Gia Long, Nguyễn Ánh đã làm được. Họ lo sợ bị mất đi nồi cơm, mất đi phiếu thực phẩm do nhà nước phân phối, lo sợ bị đuổi khỏi chăn êm nệm ấm rồi phải ' nằm gai nếm mật' trên tuốt rừng xanh Việt Bắc. Tất nhiên, họ phải đánh phá kẻ thù 'trong ngủ mớ'. Họ 'chui mùng' đánh phá nhà Nguyễn để tự trấn an bản thân như kẻ sợ ma trùm mền ú́ ớ la hét vô nghĩa.
Lấy việc Nguyễn Ánh nhờ người Pháp giúp để đánh nhau với Tây sơn rồi khép tội ông ấy cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ - thế thì những vị tướng người Trung quốc như Vi Quốc Thanh, Trần Canh, La Quý Ba, trong chiến tranh Việt - Pháp, há chẳng phải là rắn cắn gà nhà, là voi giày mả tổ hay sao ? Sao không xét đến công trạng của Nguyễn Ánh Gia long đã phục dựng cơ đồ tổ tiên là sự nghiệp của 9 vị chúa Nguyễn truyền lại từ hơn 200 năm trước, kể từ năm 1558....Gia Long há chẳng phải là̀đấng anh hùng, hiếu trung, tiết liệt ? chưa bàn đến công lao nhà Nguyễn thống nhất sơn hà, mở mang bờ cõi sau này.
Bản đồ nước Đại Nam tức Việt Nam dưới triều Minh Mạng, vị vua lên ngôi kế tục sự nghiệp của vua Gia Long.
Là cận thần của vị vua nhà Nguyễn cuối cùng, nhưng cụ Trần trọng Kim thoát khỏi ân oán tình thù của triều Gia Long, không a dua nịnh hót uốn lưỡi chỉ chê bai nhà Nguyễn Tây Sơn là ngụy, há những kẻ thứ dân hay quan hạ cấp như Chu Lai có đủ tư cách gì để mắng chửi triều Nguyễn ? Những kẻ còn lên án Nguyễn Ánh Gia Long nên lấy tinh thần của cụ Trần trọng Kim làm kim chỉ nam cho việc nhìn lại lịch sử.
Từ đầu bài viết này tôi đã ghi "sẽ không có gi gượng ép khi liên tưởng việc đánh phá nhà Nguyễn có liên quan đến việc mưa đỏ sắp chu du ra thế giới với giải Oscar !?" Lý do cho sự nghi ngờ của tôi là việc xuất hiện cách đánh phá Gia Long được cập nhật theo lối nhìn mang tính thời sự hiện nay.
8. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, đất nước thống nhất nhưng cũng khép lại một cơ hội cải cách !?
Bên cạnh những thứ rác rưởi như Chu Lai, hiện nay việc chê bai Gia Long còn có sự góp mặt của cả loại người cổ súy dân chủ tự do cho Việt nam, họ cũng đổ tội không biết canh tân cải cách cho ông Gia Long. Trên trang báo tiếng dân có người đã̃ viết :
"Từ triều Nguyễn đến Cách mạng tháng Tám: Khi cơ hội trôi qua.
"Năm 1789, Cách mạng Pháp bùng nổ, mở ra thời kỳ tự do và dân chủ ở phương Tây. Con người lần đầu tiên tin rằng họ có quyền quyết định vận mệnh của mình.
Trong khi đó, ở châu Á, Nhật Bản chuẩn bị bước vào công cuộc Minh Trị Duy Tân, còn Việt Nam vẫn chìm trong nội chiến Trịnh – Nguyễn, rồi khởi nghĩa Tây Sơn, và cuối cùng là triều đại Nhà Nguyễn.
"Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, đất nước thống nhất nhưng cũng khép lại một cơ hội cải cách. Quyền lực tuyệt đối của triều đình giúp duy trì trật tự, song lại khiến xã hội trì trệ. Khi phương Tây trỗi dậy, Việt Nam chưa kịp thay đổi thì đã bị cuốn vào vòng thuộc địa.
"Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cơ hội phát triển của Việt Nam đã bị đánh mất vì nỗi sợ mất quyền lực – một căn bệnh lịch sử sẽ còn kéo dài suốt nhiều thế kỷ sau đó. (hết trích, nguồn https://baotiengdan.com/2025/10/21/dinh-menh-va-co-hoi-cua-viet-nam-vong-lan-quan-quyen-luc-hon-hai-the-ky/).
Vua Gia Long lên ngôi năm 1802, đó là lúc được cho là năm kết thúc cuộc Chiến tranh Cách mạng Pháp, vốn là một loạt các cuộc xung đột lớn diễn ra từ năm 1792 đến năm 1802, giữa chính phủ Cách mạng Pháp với nhiều quốc gia châu Âu. Cuộc chiến kết thúc bằng Hòa ước Amiens ký năm 1802, nhưng rồi ngay sau đó chiến sự lại tiếp tục khi cuộc chiến tranh Napoleon nổ ra. Chiến tranh Napoléon là một loạt các cuộc chiến trong thời hoàng đế Napoléon Bonaparte trị vì nước Pháp, diễn ra giữa các khối liên minh các nước châu Âu chống lại Đệ nhất Đế chế Pháp.
Điều này cho thấy ngay cả nước Pháp văn minh, tiên phong về dân chủ tự do vẫn còn ở dưới sự cai trị của hoàng đế Napoléon Bonaparte khi ông Gia Long lên ngôi. Có thể nói trên khắp thế giới - ngoại trừ nước Mỹ với nền cọng hòa nhưng dân chủ vẫn còn hết sức phôi thai - thì chưa có một ngọn nến dân chủ tự do nào đã được đốt lên hồi đầu thế kỷ 19. Quyền lực tuyệt đối của triều đình là đặc tính cố hữu của các thể chế phong kiến. Nếu là Gia Long (!) quý vị làm gì để mang lại dân chủ tự do cho một đất nước vừa trải qua 200 năm nội chiến ? một xã hội thích giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực chiến tranh ?
9. Thế sao không cải cách canh tân như Nhật bản ?
Ở Nhật bản, chế độ Mạc phủ kéo dài từ năm 1192 cho đến năm 1867. Tức là, khi vua Gia Long qua đời vào năm 1820 thì xã hội Nhật bản vẫn đang còn lầm lủi đánh nhau giữa các lãnh chúa để tranh giành lãnh địa. Giữa thế kỷ XIX, chuyến thăm của Phó đề đốc Hoa Kỳ Matthew Calbraith Perry với những phát đại bác bắn thị uy đã làm thức tỉnh các vỏ sỉ và các lãnh chúa Nhật bản, vốn chỉ biết chém giết nhau bằng dao kiếm. Xã hội Nhật bản bừng tỉnh, hiểu rằng việc hướng nội luyện vỏ luyện kiếm không giúp họ chống lại được đạn đại bác của phương Tây. Hướng ngoại để học hỏi, biến thành nhu cầu cấp bách cho giới vỏ sỉ đạo và lôi kéo theo người dân thường của Nhật bản.
Ý thức đam mê đánh nhau, giải quyết mâu thuẩn bằng bạo lực nhường chổ cho sự học hỏi cái mới cái lạ, là nền tảng cho sự canh tân của nước Nhật.
10. Thay lời kết.
Lịch sử nam bắc phân tranh thời Trịnh - Nguyễn cho thấy, có vô số kẻ đổi chúa, thay phe vì họ tham gia việc nước chỉ vì địa vị, bổng lộc cho họ. Vòng xoáy tranh chấp quyền lực, quyền lợi cho bản thân nhân danh chủ nghĩa, nhân danh quốc gia đại sự trong nửa sau thế kỷ 20 tại Việt nam, đã nhấn chìm đất nước vào hố thẳm tang thương, lạc hậu.
Ngay khi người dân Ai cập phấn khích cởi trói được xiềng xích trong phong trào cách mạng mùa xuân Ả rập, một trí thức Ai cập sống ở nước ngoài trở về cố hương để thưởng thức không khí tự do trên quê hương anh. Nhưng anh ta sớm nhận ra rằng, với đám đông đang đua nhau thể hiện từng cái tôi một trên quảng trường Tahrir, đất nước của anh sẽ không có dân chủ tự do mà chỉ thay đổi từ nhà cầm quyền độc đoán này sang nhà cầm quyền độc tài khác. Lịch sử đã chứng minh anh ta đúng.
Chừng nào các vị nói chuyện chính trị gác bỏ được cái "của tôi, cho tôi, vì tôi " để toàn tâm toàn ý cống hiến cho cái "của dân, cho dân và vì dân", chừng đó rồi hẳn nói chuyện về tự do dân chủ.....
Chừng nào quan nước Việt chưa từ bỏ thói trẻ trâu thích dùng vũ lực cưỡng bức, áp đặt mọi thứ lên đầu người dân. Chừng nào người dân nước Việt vẫn mù tịt về những khoảng trống quyề̀n lực của thế giới vốn luôn vần vũ trên đầu mình, chỉ loanh quanh gây bão trên bàn nhậu qua ly bia cốc rượu; hay gây bão bằng những bài viết thiếu phân tích nhưng nhiều khích động; hoặc cúi đầu chấp nhận kiếp con lừa, hoặc hùng hổ tranh chấp hơn thua nhau bằng bạo lực vũ phu. Chừng đó động lực cải cách canh tân không tồn tại, vì tự do học hỏi và tự do sáng tạo của cá nhân vẫn là những con số không tròn trỉnh.....
Trần HSa .... 25/10/2025.


