Share:

MỸ TRỞ LẠI VỊNH SUBIC VỚI VAI TRÒ QUÂN SỰ MỞ RỘNG.

 

Vịnh Subic.
Vịnh Subic.

Tác giả  George Riebling... 17 Tháng Chín, 2025. .... MyBaseGuide.

Căn cứ Hải quân Vịnh Subic ở Philippines, từng là căn cứ quân sự ở nước ngoài lớn thứ hai của Hoa Kỳ bên cạnh Căn cứ Không quân Clark, đang chuẩn bị cho sự hồi sinh đầy kịch tính.

Căn cứ này, bị đóng cửa vào năm 1992 sau khi các cuộc đàm phán cho thuê thất bại, hiện đang được chuyển đổi thành trung tâm hậu cần và sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới.

Mỹ và Philippines đã đồng ý một kế hoạch biến khu vực này thành trung tâm vũ khí lớn nhất thế giới, một động thái nhằm giúp kềm chế sự hung hăng của Trung Quốc trong khu vực.

Cái nhìn cận cảnh về lịch sử của Vịnh Subic.

Người châu Âu đầu tiên ghi lại sự liên lạc với Philippines là nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan, phục vụ cho Vương quốc Tây Ban Nha, người đã qua đời ở đó trong trận Mactan.

Bốn mươi bốn năm sau, vào năm 1565, một đoàn thám hiểm Tây Ban Nha do Miguel López de Legazpi dẫn đầu đã khởi hành từ Mexico ngày nay, khởi xướng cuộc chinh phục Philippines dưới triều đại vua Philip II của Tây Ban Nha, tên của ông vẫn gắn liền với đất nước này kể từ đó.

Từ năm 1565 đến năm 1898, Philippines là thuộc địa của Tây Ban Nha. Năm 1868, một đoàn thám hiểm quân sự đã được cử đến vịnh Subic để khảo sát sự thích hợp của nó cho một xưởng hải quân.

Bất chấp những phát hiện tích cực, bộ chỉ huy Tây Ban Nha ở Manila đã do dự trong việc di dời căn cứ hải quân chính yếu của mình đến vịnh Subic tương đối biệt lập. Tuy nhiên, sau gần hai thập kỷ cân nhắc, một Nghị định Hoàng gia vào năm 1884 đã chính thức tuyên bố Vịnh Subic là một cảng hải quân.
Căn cứ Hải quân Hoa Kỳ Vịnh Subic, Philippines nhìn từ trên không , vào khoảng năm 1990, với Trạm Không quân Hải quân Cubi Point có thể nhìn thấy ở bên trái.
Căn cứ Hải quân Hoa Kỳ Vịnh Subic, Philippines nhìn từ trên không , vào khoảng năm 1990, với Trạm Không quân Hải quân Cubi Point có thể nhìn thấy ở bên trái.

Mỹ thiết lập quyền kiểm soát.

Tháng 6 năm 1898, Đô đốc George Dewey dẫn đầu một lực lượng hải quân Mỹ chính thức giành quyền kiểm soát vịnh Subic, gặp phải sự kháng cự yếu ớt từ lực lượng hải quân Tây Ban Nha bảo vệ căn cứ. Sự kiện này, trùng hợp với sự kết thúc của Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, tạo tiền đề cho Chiến tranh Philippines-Mỹ sau đó.

Thời kỳ thuộc địa Tây Ban Nha kết thúc vào ngày 10 tháng 12 năm 1898, với thất bại của Tây Ban Nha trước Hoa Kỳ trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, và Hiệp ước Paris được ký kết. Điều này đánh dấu sự khởi đầu cho thời kỳ thuộc địa Mỹ trong lịch sử Philippines.

Khi lực lượng Mỹ tạm thời chuyển trọng tâm ra khỏi vịnh Subic, các lực lượng Philippines tiến chiếm căn cứ. Hoa Kỳ mất khoảng một năm để vượt qua sự kháng cự của người Philippines chống lại sự cai trị của Mỹ. Vào ngày 10 tháng 12 năm 1899, đúng một năm sau khi Hiệp ước Paris được ký kết, Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã treo cờ Mỹ trên cột cờ cao nhất trong xưởng hải quân.

Các chỉ huy hải quân ở Philippines đã tranh luận về sự phù hợp của Vịnh Subic khi làm căn cứ hải quân hàng đầu  của họ tại đây. Tuy nhiên, Tổng thống Theodore Roosevelt, một người ủng hộ trung thành cho một căn cứ hải quân tại Vịnh Subic, đã ban hành Sắc lệnh Hành pháp vào năm 1901 thành lập Khu bảo tồn Hải quân Vịnh Subic.

Chiến tranh thế giới thứ nhất và hậu quả của nó.

Khi Hoa Kỳ tham gia Chiến tranh Thế giới thứ nhất, tất cả các xưởng đóng tàu của Hải quân, bao gồm cả vịnh Subic, hoạt động với tốc độ mạnh mẽ để chuẩn bị cho các tàu được khai triển.

Tuy nhiên, sau chiến tranh, Hoa Kỳ và bốn đồng minh trong Thế chiến I đã ký Hiệp ước Hải quân Washington năm 1922, trong đó bắt buộc hạn chế vũ khí hải quân. Hiệp ước này dẫn đến việc giảm khả năng sửa chữa và bảo trì của lực lượng hải quân Hoa Kỳ tại Philippines.

Các phân xưởng tại Xưởng hải quân Vịnh Subic đã bị tháo dỡ, tình trạng của một pháo đài bị hạ xuống thành nơi canh gác, và số lượng nhân sự bị cắt giảm.

Chiến tranh thế giới thứ hai.

Vào giữa những năm 1930, Đức Quốc xã đã nắm quyền ở Đức, và Nhật Bản bắt đầu phô trương sức mạnh quân sự của họ. Do đó, Quốc hội Hoa Kỳ đã cho phép giải phóng ngân sách để cập nhật Phòng thủ bờ biển ở Vịnh Manila và Subic. Nó không đủ để ngăn chặn Quân đội Đế quốc Nhật Bản xâm lược, chiếm đóng Philippines và kiểm soát căn cứ vào tháng 12 năm 1942, chỉ một năm sau khi họ phát động cuộc tấn công bất ngờ vào Trân Châu Cảng.

Gần hai năm sau, vào ngày 20 tháng 10 năm 1944, bốn sư đoàn Lục quân Hoa Kỳ trên 650 tàu Hải quân Hoa Kỳ đổ bộ lên Palo Leyte, thực hiện lời hứa của Tướng MacArthur về việc trở lại Philippines. Người Nhật nhanh chóng di tản khỏi Philippines và đến tháng 1 năm 1945, họ đã từ bỏ vịnh Subic.

Trớ trêu và đáng buồn thay, một trong những trận chiến đẫm máu nhất trong Thế chiến II đã xảy ra sau khi Mỹ chiếm lại Vịnh Subic. Trong khi các kỹ sư Lục quân đang bận rộn chung quanh Vịnh Subic, các lực lượng khác của Quân đội Mỹ bắt đầu leo lên những ngọn đồi có rừng bao phủ của đèo Zig Zag ở phía nam căn cứ, gần Bataan.

Họ tìm thấy một một tình huống nguy hiểm với người Nhật ở đó. Sau 15 ngày chiến đấu, các vị trí của địch cuối cùng bị tràn ngập. Người Nhật đã thành công trong nhiệm vụ làm chậm bước tiến của Mỹ nhưng mất hơn 2.400 quân. Mỹ đã phải chịu 1.400 người chết.

Chiến tranh Việt Nam.
Ảnh từ Google Earth
Ảnh từ Google Earth

Sau khi Thế chiến II kết thúc và Philippines được giải phóng, Hoa Kỳ chỉ định vịnh Subic là Đơn vị Hải quân Tiền phương số 6, và nó trở thành một căn cứ tàu ngầm và tàu phóng ngư lôi động cơ.

Hoạt động tại căn cứ không sinh động, nhưng tất cả đã thay đổi sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ và quyết định sau đó của Mỹ tăng cường các hoạt động quân sự ở Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam chứng kiến giai đoạn hoạt động đỉnh điểm tại vịnh Subic, khi căn cứ này trở thành nơi đóng quân của bộ tư lệnh Tiền phương thuộc Đệ Thất hạm đội Hoa Kỳ và được xử dụng để sửa chữa và tiếp liệu.

Số lượng tàu trung bình ghé thăm căn cứ mỗi tháng tăng từ 98 vào năm 1964 lên 215 vào năm 1967. Trong chiến tranh Việt Nam, căn cứ có khoảng 30 tàu cập cảng vào bất kỳ ngày nào. Có 4.224.503 thủy thủ đến thăm Vịnh Subic vào năm 1967 và đã mua hơn 25 triệu USD hàng hóa miễn thuế từ Sàn giao dịch Hải quân.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ vào mùa hè năm 1975, hàng trăm ngàn người tị nạn chạy trốn khỏi Việt Nam. Hàng ngàn người tị nạn này đã được các tàu Hải quân Hoa Kỳ giải cứu trên biển và đưa đến Vịnh Subic. Một trung tâm xử lý  tạm thời hàng ngàn người tị nạn đã được thành lập trên đảo Grande vào năm 1975. Sau đó, họ được đưa đến Trung tâm Xử lý Người tị nạn Philippines ở Bataan.

Philippines lấy lại chủ quyền đối với Vịnh Subic.

Một sửa đổi năm 1979 đối với Thỏa thuận Căn cứ Quân sự, đã thay đổi vai trò của người Mỹ tại Vịnh Subic từ chủ nhà thành khách.

Tu chính án xác nhận chủ quyền của Philippines đối với căn cứ và giảm diện tích dành cho Hoa Kỳ xử dụng.

Là một phần của thỏa thuận, Mỹ đã cấp cho Philippines 500 triệu USD tín dụng bán quân sự và hỗ trợ giúp đỡ.

Núi Pinatubo phun trào và nước Mỹ rời đi.

Vào ngày 15 tháng 6 năm 1991, vụ phun trào núi lửa lớn thứ hai trong thế kỷ 20 xảy ra khi núi Pinatubo, chỉ cách Vịnh Subic 20 dặm, phát nổ với sức mạnh gấp 8 lần vụ phun trào núi St. Helens năm 1980, giết chết 57 người và tàn phá 210 dặm vuông thành vùng hoang dã. Mặt trời gần như bị che khuất bởi tro núi lửa và động đất núi lửa, mưa lớn, sấm chớp và sấm sét từ cơn bão Yunya đi qua phía bắc Luzon dẫn đến khoảng thời gian hỗn loạn hoàn toàn kéo dài 36 giờ. Khi vụ phun trào lắng xuống một ngày sau đó, Vịnh Subic bị chôn vùi dưới hơn ba tấc tro cát ướt đẫm mưa.
Ảnh chụp  Căn cứ Không quân Clark, Luzon, Philippines từ trên không, vào ngày 1 tháng 12 năm 1989. Một số máy bay McDonnell Douglas F-4E và F-4G Phantom II của Không quân Hoa Kỳ từ Phi đoàn Tiêm kích Chiến thuật số 3 đang đậu trong khu vực phân tán của chúng. Một chiếc Lockheed C-141B Starlifter có thể nhìn thấy ở bên phải, một số máy bay Lockheed C-130 Hercules đang đậu ở hậu cảnh bên phải.
Ảnh chụp Căn cứ Không quân Clark, Luzon, Philippines từ trên không, vào ngày 1 tháng 12 năm 1989. Một số máy bay McDonnell Douglas F-4E và F-4G Phantom II của Không quân Hoa Kỳ từ Phi đoàn Tiêm kích Chiến thuật số 3 đang đậu trong khu vực phân tán của chúng. Một chiếc Lockheed C-141B Starlifter có thể nhìn thấy ở bên phải, một số máy bay Lockheed C-130 Hercules đang đậu ở hậu cảnh bên phải.

Căn cứ không quân Clark của Không quân Mỹ, cách Vịnh Subic chưa đầy 30 dặm và nằm gần núi Pinatubo hơn, bị bao phủ bởi hàng tấn tro bụi và bị quân đội Mỹ tuyên bố là thiệt hại hoàn toàn mà không có kế hoạch khôi phục nó.

Trong khi Vịnh Subic bị núi lửa tấn công nặng nề, các nhân viên căn cứ đã làm việc sốt sắng để khôi phục các dịch vụ và mở lại căn cứ. Đến giữa tháng Bảy, dịch vụ đã được khôi phục cho hầu hết các đơn vị nhà ở cho khu gia binh. Những người phụ thuộc quân sự bắt đầu trở về vào ngày 8 tháng 9 năm 1991 và đến cuối tháng, hầu hết tất cả đều trở lại Vịnh Subic từ Hoa Kỳ. Vào tháng 9 năm 1991, hơn hai mươi nghìn thường dân Philippines đã được căn cứ tuyển dụng. Khi núi lửa không thể đóng cửa căn cứ hải quân, chính trị đã hoàn thành công việc.

Với Thỏa thuận Căn cứ Quân sự từ năm 1947 sẽ hết hạn, chính phủ Hoa Kỳ và Philippines đã cố gắng đàm phán lại các điều khoản từ năm 1988 đến năm 1992. Những cuộc đàm phán này dẫn đến Hiệp ước Hữu nghị, Hòa bình và Hợp tác giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Philippines. Điều này sẽ kéo dài thời gian thuê các căn cứ của Mỹ ở Philippines. Tuy nhiên, chính phủ Hoa Kỳ đã chính thức phản đối số tiền mà họ sẽ phải trả cho chính phủ Philippines đối với việc thuê và xử dụng các căn cứ.

Vào ngày 27 tháng 12 năm 1991, Tổng thống Philippines Corazon Aquino, người trước đó đã đấu tranh để trì hoãn việc Mỹ rút quân nhằm giảm bớt nền kinh tế bị tàn phá của Philippines, đã đưa ra một thông báo chính thức yêu cầu Mỹ rời khỏi Philippines vào cuối năm 1992.

Đặc khu kinh tế và cảng tự do Subic.

Sau khi quân đội Mỹ rời đi, Vịnh Subic đã được chuyển đổi thành một khu thương mại dưới sự lãnh đạo của Thị trưởng Richard Gordon, người muốn bảo vệ và phục hồi các cơ sở và tài sản trị giá 8 tỷ đô la khỏi bị cướp bóc và phá hủy.

Subic đã được chuyển đổi và trở thành một mô hình cho việc chuyển đổi căn cứ thành mục đích thương mại sau Chiến tranh Lạnh. Các công ty có uy tín cao đã bơm hơn 3 tỷ USD đầu tư và tạo ra 70.000 việc làm trong bốn năm đầu tiên của cảng tự do.

Quân đội Mỹ lặng lẽ trở lại.

Năm 2022, chính phủ Mỹ và Philippines đã âm thầm chuẩn bị cho các lực lượng Mỹ quay trở lại Vịnh Subic trong bối cảnh căng thẳng gia tăng với Trung Quốc. Đầu tiên, Hải quân Philippines thành lập một Căn cứ Hoạt động Hải quân (NOB) và sau khi phần còn lại của cảng được rao bán, một công ty cổ phần tư nhân của Mỹ, Cerberus Capital Management đã mua lại cảng này.

Ngày 9/11/2022, Đại sứ Mỹ tại Philippines, MaryKay Carlson đã đến thăm Vịnh Subic. Hai tuần sau, một quan chức Philippines nói rằng ông sẽ "rất ngạc nhiên" nếu Vịnh Subic không trở lại phục vụ như một cơ sở quân sự của Mỹ, thông qua Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường mới, giữa hai quốc gia. Bình luận đó đã mang tính tiên tri.

Sau khi khôi phục sân bay Vịnh Subic, Hải quân Mỹ đã mở một căn cứ hoạt động tiền phương mới sẽ chứa các thiết bị tuần tra hàng hải dành cho các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Nằm dọc theo Căn cứ Không quân Hải quân cũ Cubi Point ở rìa Vịnh Subic của Căn cứ Hải quân, dự án đã tăng cường máy bay giám sát và triển khai sức mạnh chung quanh khu vực. Đây chỉ là khởi đầu cho sự hồi sinh quân sự của Vịnh Subic.

Trung tâm sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới.

Trong một động thái chiến lược để chống lại sự hiện diện quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc, Mỹ và Philippines đang thúc đẩy kế hoạch thiết lập một trung tâm sản xuất vũ khí khổng lồ tại Vịnh Subic. Cơ sở này, được hỗ trợ bởi các khoản đầu tư từ Mỹ và Hàn Quốc, dự kiến sẽ tăng gấp đôi công suất đóng tàu của Philippines lên 2,5 triệu tấn mỗi năm và tạo ra hơn 4.000 việc làm vào năm 2030.

Đại sứ Hàn Quốc tại Manila mô tả nhà máy đóng tàu là một "quan hệ đối tác ba bên", tận dụng công nghệ Hàn Quốc, tài chính của Mỹ, lợi thế địa lý và lao động của Philippines. Sáng kiến này tiếp nối việc Washington khai triển các hệ thống tên lửa tiên tiến đến Philippines và đánh dấu một liên minh an ninh ngày càng sâu sắc dưới thời Tổng thống Marcos Jr., người nhậm chức vào năm 2022.
Tổng thống Donald J. Trump và Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr.
Tổng thống Donald J. Trump và Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr.

Trong hội nghị thượng đỉnh gần đây với Tổng thống Mỹ Donald Trump, Marcos Jr. coi cơ sở này là một phần không thể thiếu trong chiến lược "phòng thủ tự lực" của Philippines và là phản ứng trực tiếp đối với hoạt động gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông, mà Manila gọi là "Biển Tây Philippines". Marcos nhấn mạnh tầm quan trọng căn bản trong việc bảo vệ lãnh thổ và thực hiện chủ quyền của họ. Đến lượt mình, ông Trump tuyên bố rằng Philippines sẽ sớm "sở hữu nhiều đạn dược hơn bất kỳ quốc gia nào khác", bao gồm một loạt các tên lửa.

Kế hoạch này liên quan đến việc tạo ra một trung tâm sản xuất và lưu trữ đạn dược có quy mô lớn trong khu vực, cho phép phản ứng chung nhanh chóng giữa Mỹ và Philippines trong trường hợp xảy ra xung đột. Điều này được xây dựng dựa trên quyết định năm 2023 của Manila về việc tăng khả năng tiếp cận của Mỹ vào các căn cứ quân sự của Philippines, từ năm lên chín căn cứ và lưu trữ các hệ thống tên lửa trên mặt đất của Mỹ, chẳng hạn như hệ thống tầm trung "Typhoon" và tên lửa chống hạm "Nemesis". Trong khi quân đội Mỹ hiện chỉ tiến hành huấn luyện luân phiên ở Philippines, các cơ sở mới có thể dẫn đến sự hiện diện quân sự thường trực của Mỹ.

Theo một báo cáo của Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Hải quân Mỹ, đây là "khoản đầu tư quốc phòng đáng kể nhất của Mỹ vào Philippines kể từ Chiến tranh Lạnh".

Với việc Mỹ dự đoán một cuộc xung đột tiềm tàng với Trung Quốc trước khi kết thúc thập kỷ này, vị trí chiến lược của Vịnh Subic - cách Thâm Quyến và Đài Bắc khoảng 684 dặm, cách Thượng Hải 1.120 dặm và cách Bắc Kinh 1.740 dặm (cách Quảng Ngãi Việt nam chừng 680 dặm) - đặt nó nằm trong tầm bắn của các tên lửa đạn đạo tầm trung của Trung Quốc. Sự gần gũi này đã gây lo ngại cho một số nhà lãnh đạo chính trị Philippines. Phó Tổng thống Sara Duterte cảnh báo rằng liên kết quá chặt chẽ với Washington có nguy cơ biến Philippines thành "lá chắn đạn cho Trung Quốc".

Tất nhiên, Trung Quốc dự kiến sẽ theo dõi chặt chẽ những diễn biến này.

----------------
_ Tác giả George Riebling là một Đại tá Không quân Hoa Kỳ đã nghỉ hưu, ông đã phục vụ 26 năm trong không quân  với tư cách là Giám đốc Chiến đấu Không quân với các nhiệm vụ hoạt động trong 5 hệ thống vũ khí chỉ huy và điều khiển.
_ Trần HSa lược dịch từ MyBaseGuide.



Share:

TRẦN H SA

Bài đăng phổ biến từ blog này

Minneapolis quay cuồng sau một vụ giết người khác.

Trò chơi lâu dài đằng sau cuộc thanh trừng PLA của Tập Cận Bình.

Nước Mỹ với con tàu Titanic của Trump.