Share:

Những lời đe dọa của Trump chống lại NATO là căn bệnh tinh thần tự cảm nhận. Căn bệnh này còn lan rộng hơn thế nữa.

 

Tổng thống Donald Trump gặp Thủ tướng Đức Friedrich Merz tại Phòng Bầu dục
Tổng thống Donald Trump gặp Thủ tướng Đức Friedrich Merz tại Phòng Bầu dục ở Tòa Bạch Ốc, ngày 3 tháng 3 năm 2026. (Ảnh AP của Mark Schiefelbein)

Tác giả Candace Rondeaux....05 Tháng Năm, 2026.... World Politics Review.

Nếu năm 2025, tâm trạng chủ đạo ở châu Âu về NATO là của một người tình bị bỏ rơi—bị tổn thương, vỡ mộng và tức giận trước sự bất ổn của Washington, nhưng vẫn còn gắn bó về mặt cảm xúc với mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương—thì năm 2026 tâm trạng lại giống như một cuộc hôn nhân khá dài, gặp khó khăn và đang lao dốc đến hồi kết vì tiền bạc, cam kết và những kỳ vọng giảm sút. Cuộc tranh cãi gay gắt mới nhất giữa Thủ tướng Đức Friedrich Merz và Tổng thống Mỹ Donald Trump về đề xuất rút quân Mỹ đóng tại nước này, mang cảm giác như một cuộc cãi vã nội bộ đã vượt khỏi tầm kiểm soát.

Ông Merz đã phải tự vệ kể từ khi chỉ trích cách xử lý cuộc chiến ở Trung Đông của ông Trump, đặc biệt là bình luận rằng Tehran "làm nhục" Washington, đã vấp phải sự đáp trả từ phía Trump và lời đe dọa giảm mạnh sự hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Âu. Thông báo của Trump vào ngày 1 tháng 5 về việc Hoa Kỳ dự định di chuyển khoảng 5.000 binh sĩ ra khỏi Đức – cùng với kế hoạch hủy bỏ thỏa thuận đạt được năm 2024 dưới thời chính quyền Biden, về việc khai triển một tiểu đoàn đặc biệt được trang bị tên lửa tầm trung và siêu thanh – đã rơi vào thời điểm đặc biệt nhạy cảm ở châu Âu. Washington cũng đã cảnh báo Ba Lan, Litva, Estonia và các đồng minh châu Âu khác rằng, việc giao hàng các hệ thống vũ khí quan trọng có thể bị trì hoãn do xung đột Iran gây căng thẳng cho kho dự trữ và các tuyến đường vận chuyển hậu cần của Mỹ.

Được thực hiện riêng lẻ, mỗi động thái đều có thể kiểm soát được. Nhưng khi kết hợp lại, chúng gửi đi một tín hiệu lớn hơn. Sức mạnh quân sự của Mỹ vẫn rất lớn, nhưng ngày càng có vẻ hữu hạn, có điều kiện và được tổ chức theo kiểu ưu tiên xử lý các vấn đề cấp bách nhất. Khi các cuộc chiến ở Iran và Ukraine tiếp diễn, việc coi những rắc rối của NATO như một cuộc xung đột lẻ tẻ là điều dễ hiểu, nhưng lại rất tốn kém. Châu Âu và Bắc Mỹ tạo thành một khối đồng minh gồm 1,2 tỷ người và có lịch sử tám thập kỷ hợp tác. Những gì đang được đàm phán lại hiện nay, sẽ tồn tại lâu hơn cả người đang nắm giữ chức vụ Tổng thống Mỹ hiện tại – và cả hai bên đều chưa suy nghĩ thấu đáo về những gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Sự nhận thức dần dần đó phần nào giải thích được sự thay đổi cảm xúc kỳ lạ đang diễn ra ở Đức. Trong những tháng sau cuộc xâm lược Ukraine của Nga, Thủ tướng lúc bấy giờ Olaf Scholz đã tuyên bố một Zeitenwende - một bước ngoặt lịch sử - sẽ định hình lại chính sách quốc phòng của Đức. Ngôn ngữ được xử dụng rất kịch tính, thậm chí mang tính sống còn. Berlin tiếp theo đó bằng một đợt chi tiêu kỷ lục, khiến chi tiêu cho quốc phòng gần như tăng gấp đôi, từ khoảng 51 tỷ euro năm 2022 lên 108,2 tỷ euro được dự trù cho năm nay. Hơn một năm kể từ khi Trump nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, một từ tiếng Đức khác ngày càng thể hiện rõ tâm trạng chung quanh sự thu hẹp quy mô của nước Mỹ: "absehbar" . "Có thể dự đoán được."

Ông Trump vẫn phải chính thức phê chuẩn việc di chuyển quân đội đã được công bố, và nếu ông quyết định di chuyển hơn 5.000 binh sĩ, mọi chuyện có thể trở nên phức tạp. Theo luật, Quốc hội cần phải phê duyệt bất kỳ động thái nào nhằm giảm số lượng binh sĩ Mỹ đóng quân tại châu Âu xuống dưới 76.000 người trong hơn 45 ngày. Để giảm xuống dưới mức tối thiểu đó, Bộ trưởng Quốc phòng phải chứng nhận với Quốc hội rằng động thái này phục vụ lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ và các đồng minh NATO đã được tham vấn.

Nhưng những rào cản đó khó có thể trấn an người dân khi xét đến lịch sử hành động bốc đồng của ông Trump. Do đó, phản ứng ở Đức và khắp châu Âu,  dao động giữa bị sốc, sự cam chịu và những biểu hiện độc lập giả tạo. Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius đón nhận tin tức về những động thái mới nhất của ông Trump với thái độ thờ ơ, nói rằng việc tái tổ chức lực lượng Mỹ là điều “đã được dự đoán”. Về phần mình, ông Merz dường như đang trong tình trạng kiểm soát thiệt hại. Trong một bài đăng trên X chỉ vài giờ sau khi Trump đe dọa khả năng giảm quân số hơn nữa, có thể từ Tây Ban Nha và Ý, Merz nói rằng Mỹ là "đối tác quan trọng nhất" của Đức trong NATO, đồng thời nói thêm rằng Berlin và Washington có "mục tiêu chung: Không được phép để Iran sở hữu vũ khí hạt nhân."

Sự ám ảnh của Trump về quân đội ở Đức bắt nguồn từ nhiệm kỳ đầu tiên của ông. Vào tháng 6 năm 2020, ông đã phê duyệt kế hoạch giảm sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Đức từ khoảng 34.500 binh sĩ xuống còn 25.000. Ông viện dẫn lý do chính là việc Đức không đáp ứng được các mục tiêu chi tiêu quốc phòng của NATO. Kế hoạch này ngay lập tức vấp phải sự phản đối từ cả hai đảng trong Quốc hội, với các nhà lập pháp từ cả hai đảng bày tỏ lo ngại rằng nó sẽ làm suy yếu khả năng răn đe đối với Nga. Cuối cùng, kế hoạch này đã bị hủy bỏ vào năm 2021; mệnh lệnh mới nhất của Trump, mà Ngũ Giác đài  dự định thực hiện trong vòng 6 đến 12 tháng tới, là sẽ đưa cơ cấu lực lượng của Mỹ trên lục địa châu Âu trở lại mức trước năm 2022.

Lý do cốt lõi cho việc tái cấu trúc lực lượng ở châu Âu đã được hình thành trong nội bộ Washington trong nhiều năm, và ít nhân vật nào thể hiện điều đó rõ ràng hơn Elbridge Colby, hiện đang giữ chức vụ quan chức số 3 của Ngũ Giác đài. Trong bài phát biểu trước Nhóm Liên lạc Quốc phòng Ukraine hồi tháng 4, Colby lập luận rằng châu Âu phải gánh vác “trách nhiệm chính” đối với quốc phòng thông thường của lục địa, trong khi Hoa Kỳ tập trung vào “những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với người Mỹ”, tức là Trung Quốc. Ông cảnh báo rằng sự hỗ trợ dành cho Ukraine và các cam kết liên minh rộng lớn hơn phụ thuộc rất nhiều vào việc xử dụng “kho dự trữ hữu hạn của Hoa Kỳ”.

Quan điểm này không mới mẻ hay chỉ giới hạn ở Colby, dù ông là người ủng hộ nó mạnh mẽ. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2022, được công bố ngay sau khi cuốn sách chuyên khảo có ảnh hưởng lớn của Colby về chính sách đối với Trung Quốc, “Chiến lược phủ nhận”, được xuất bản, Colby đã lập luận rằng các liên minh nên hoạt động  giống như các mối quan hệ đối tác kinh doanh tư nhân, và ít giống như một “chuyện tình cảm”— mang tính cá nhân về bản chất, nhưng mang tính đổi chác về nghĩa vụ. Theo quan điểm của Colby, châu Âu hiện đang phải trả giá cho sự chuyển hướng của Mỹ sang châu Á chậm chạp và đầy khó khăn.

Cũng giống như cuộc xung đột ở Ukraine đã bộc lộ những thiếu sót trong cơ sở công nghiệp quốc phòng của 32 quốc gia thành viên NATO, cuộc chiến ở Iran đã phơi bày những mâu thuẫn chưa được giải quyết ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Nhiều người châu Âu nhìn thấy ở Washington sự leo thang bốc đồng, lời lẽ mang tính con buôn và sự bành trướng chiến lược quá mức. Nhiều người Mỹ nhìn thấy ở Brussels sự do dự,  ra quyết định rời rạc và phụ thuộc kinh niên.

Cả hai cách hiểu đều có phần đúng. Các cường quốc Tây Âu, bị ràng buộc bởi chính trị khối, sự hoài nghi trong nước cùng ký ức về Iraq và Afghanistan, đã đặt điều kiện cho sự ủng hộ của họ đối với các hoạt động quân sự ở Vịnh Ba Tư, dựa trên động thái ngoại giao của Mỹ hướng tới việc mở lại eo biển Hormuz. Dưới thời Trump, Mỹ đang hành động theo một chiến lược hoàn toàn khác, dao động giữa các mối đe dọa hủy diệt nền văn minh và những nỗ lực ứng biến nhằm thiết lập lại các điều khoản ngoại giao với Iran.

Trong khi đó, Trump theo đuổi cuộc xung đột Iran mà không mấy quan tâm đến sự cho phép của Quốc hội, và bất chấp tỷ lệ ủng hộ thấp đối với nhiệm kỳ của ông, và cuộc chiến mà lẽ ra đã có thể ngăn chặn nếu ông là một tổng thống bị ràng buộc bởi các thể chế chặt chẽ hơn. Các cơ chế kềm chế thông thường không được xử dụng, và những phản đối mạnh mẽ từ các chủ tịch đảng Cộng hòa của cả Ủy ban Quân vụ Thượng viện lẫn Hạ viện, Thượng nghị sĩ Roger Wicker và Hạ nghị sĩ Mike Rogers, dường như cho đến nay vẫn chưa làm chậm lại kế hoạch điều chuyển quân đội ở châu Âu của Trump.

Vấn đề rắc rối với cách tiếp cận 'chính trị liên minh' khá thiếu quyết liệt của chính quyền Trump là có hai mặt. Châu Âu vẫn còn một chặng đường dài để bước trước khi khát vọng chính trị về quyền tự chủ, hòa hợp với thực tế vật chất của một nền công nghiệp quốc phòng bị suy yếu do thiếu đầu tư – và một lĩnh vực tài chính mà đã dành hàng thập kỷ để tránh chi tiêu nguồn vốn lớn cho các hệ thống vũ khí. Cốt lõi của nền công nghiệp quốc phòng châu Âu được xây dựng từ nhiều thập kỷ trước cho một môi trường đe dọa, đã leo thang theo nhiều hướng khác nhau, và học thuyết được thiết kế để vận hành nó đã chậm chạp trong việc tiếp thu những gì mà chiến tranh máy bay không người lái ở Ukraine và vùng Vịnh đã cho thấy rõ: rằng tự động hóa và trí tuệ nhân tạo không phải là bổ sung cho lực lượng thông thường mà là những thành phần thiết yếu của chiến tranh hiện đại. Việc tái cấp vốn cho cái này đồng thời xem xét lại cái kia, dưới áp lực tài chính và chính trị, là một vấn đề hoàn toàn khác so với việc chỉ đơn giản là chi tiêu nhiều hơn.

Vấn đề thứ hai còn sâu sắc hơn: Đối với các quốc gia đang nương náu dưới chiếc ô hạt nhân do Mỹ dẫn đầu NATO, phòng thủ tập thể không phải là một thỏa thuận ngân sách. Đó là một gánh nặng tâm lý. Sự khác biệt này trở nên quan trọng khi bên bảo lãnh bắt đầu gửi các hóa đơn với thời hạn thanh toán ngắn. Các liên minh quân sự không chỉ dựa vào khả năng tác chiến. Sức mạnh của chúng đến từ sự gắn kết về mặt cảm xúc, ký ức lịch sử và niềm tin rằng sự đoàn kết chính trị sẽ vượt qua được các cuộc khủng hoảng.

Không còn nghi ngờ gì nữa: Hoa Kỳ cần châu Âu bởi vì các cuộc cạnh tranh quyết định trong thập kỷ tới sẽ diễn ra trên các hệ thống phụ thuộc lẫn nhau, mà không một lãnh thổ chiến trường nào có thể bao trùm. Nếu cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz đã cho thấy điều gì, thì đó là nhiều năm chiến tranh kinh tế kết hợp với áp lực quân sự chống lại các đối thủ như Iran và Nga, cùng với sự cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt với Trung Quốc, đã thúc đẩy sự hội nhập lợi ích của họ hơn là làm suy yếu chúng.

Dầu mỏ của Tehran và Moscow hiện được thanh toán bằng đồng nhân dân tệ của Trung Quốc. Đó không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên của các lực lượng thị trường; đó là kết quả của hơn một thập kỷ gây áp lực, tạo ra sự liên kết thay vì cô lập. Cả Washington và Brussels đều chưa thực sự hiểu hết ý nghĩa của sự hội tụ này trước việc quản lý liên minh và ổn định toàn cầu trong thập kỷ tới – nhưng hiện chỉ có một trong hai bên đang đơn phương viết lại các điều khoản của mối quan hệ này.

----------------
_ Candace Rondeaux là giáo sư tại Sáng kiến ​​An ninh Tương lai thuộc Đại học Bang Arizona và là nghiên cứu viên cao cấp không thường trú tại chương trình An ninh Toàn cầu của New America.
_ Trần HSa lược dịch từ World Politics Review....06/5/2026.


Share:

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tái thiết kho vũ khí của nền dân chủ

Putin đang suy sụp. Đây là lúc để bắt đầu đá văng anh ta

Sau Hormuz, Đông Nam Á nhìn thấy giá trị tiềm năng của việc thu phí qua eo biển Malacca.

Feed Burner