Share:
Trường sa Việt nam Biển Đông
Châu bản 18 (2 tờ) Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia.
Việt Nam cải taọ đất đảo vượt mặt Trung Quốc trong khi thế giới đang theo dõi.
Trước đây, thời các chúa Nguyễn đã xác lập một nhận thức chung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ thế kỷ XVII, Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, bản A.2499 chép: “Giữa biển có dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng, dài khoảng 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng sừng sững giữ biển”, Thiên Nam lộ đồ, bản A.1081 chép: “Giữa biển có dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng, khoảng từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Huỳnh, ước dài năm, sáu trăm dặm, rộng ba, bốn mươi dặm, đứng sừng sững giữa biển”. Trong chính sử triều Nguyễn, bộ Đại Nam thực lục tiền biên, năm 1754 đã xác nhận: “Đội Hoàng Sa ở Quảng Nam đi thuyền ra đảo Hoàng Sa… Ở ngoài biển, về xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, [phủ] Quảng Ngãi có hơn 300 bãi cát cách nhau hoặc đi 1 ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy nghìn dặm, tục gọi là Vạn Lý Trường Sa”. Trước đó, từ đầu thế kỷ XVIII, bộ sử này đã chép: chúa Nguyễn sai Tổng binh trấn Hà Tiên Mạc Cửu “đo bãi cát biển Trường Sa (長 沙 海 渚: Trường Sa hải chử) dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu”. Cuối thế kỷ XVIII, trong Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn với Lời tựa năm 1776, tổng hợp những tư liệu trong sử sách kết hợp với những hiểu biết tích lũy trong thời gian làm Hiệp trấn Thuận Hóa, viết rõ: “Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía đông bắc có nhiều đảo, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi Hoàng Sa (黄 沙 渚: Hoàng Sa chử) dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy”. Tác giả cho biết vùng đảo này gọi là Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa và hoạt động của đội Hoàng Sa kiêm quản cả đội Bắc Hải.
Như vậy là cho đến cuối thế kỷ XVIII, tổ tiên ta đã đạt đến một nhận thức rõ ràng, gọi vùng hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa ngày nay là “Bãi Cát Vàng” hay “Hoàng Sa”, “Đại Trường Sa”, “Vạn Lý Trường Sa” gồm hàng trăm hòn đảo và bãi cát, ước tính có khi viết 130 đảo, có khi viết 300 bãi cát mà đi thuyền từ đảo này đến đảo kia có khi mất một ngày hay vài canh. Phạm vi cũng ước tính dài khoảng 400 dặm, rộng 20 dặm hay dài năm, sáu trăm dặm, rộng ba, bốn mươi dặm hay kéo dài không biết mấy nghìn dặm. Cũng có khi viết Bãi cát biển Trường Sa (Trường Sa hải chử), Bãi Hoàng Sa (Hoàng Sa chử) hình như để chỉ riêng Hoàng Sa và Trường Sa cùng một số đảo của hai quần đảo này. Nói chung nhận thức thời đó dựa trên sự quan sát, nặng về ước tính, chưa đo đạc, tính toán cụ thể.
Sang thời Nguyễn, qua các họat động điều tra khảo sát và đo đạc, vẽ bản đồ thực hiện trong thời Gia Long, Minh Mệnh, nhận thức của nhà Nguyễn được nâng lên một trình độ mới về vị thế chiến lược cũng như hiểu biết cụ thể về toàn vùng và một số đảo cụ thể. (https://archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/chau-ban-trieu-nguyen-nhung-chung-cu-lich-su-phap-ly-ve-chu-quyen-cua-viet-nam-doi-voi-hoang-sa-truong-sa.htm)
Từ cuối năm 1946, cùng với sử dụng vũ trang để tiêu diệt Chính phủ VNDCCH, Pháp đã chủ trương thành lập một chính phủ không cộng sản trên đất Việt Nam. Sau rất nhiều thủ tục trung gian, ngày 8-3-1949, Hiệp định Hạ Long được ký kết và Quốc gia Việt Nam (QGVN) thuộc Liên hiệp Pháp được thành lập (theo một số nguồn tư liệu, đến đầu năm 1950 đã có 35 quốc gia công nhận QGVN). Với việc thành lập quốc gia này, Pháp coi như đã chính thức trao quyền quản lý toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho QGVN. Do vậy, vào tháng 4-1949, Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc, Bộ trưởng Bộ Nội vụ QGVN tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 14-10-1950, dưới sự chủ trì của Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo, việc quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được Chính phủ Pháp chính thức bàn giao cho QGVN.
Năm 1949, Pháp đã gửi đơn xin đăng ký ba trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Tổ chức Khí tượng Thế giới và đã được chấp nhận. Các trạm khí tượng này là Trạm Phú Lâm với số hiệu 48859; Trạm Hoàng Sa với số hiệu 48860; Trạm Ba Bình với số hiệu 48419.
Năm 1951, QGVN đã được mời tham dự Hội nghị San Francisco về chấm dứt chiến tranh tại châu Á - Thái Bình Dương và lập quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Hội nghị có 51 nước tham gia. Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Đề nghị này đã bị Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận.
Tại Hội nghị, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của QGVN Trần Văn Hữu tuyên bố: “Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Tuyên bố này của Thủ tướng Trần Văn Hữu không bị quốc gia nào phản đối hay bảo lưu.
Bằng cách ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954, VNDCCH đã chính thức thừa nhận chỉ quản lý lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở về Bắc và thực hiện thống nhất đất nước thông qua tổng tuyển cử ở hai miền Bắc và Nam. Tuy QGVN không ký Hiệp định Giơnevơ, nhưng thông qua việc ký kết Hiệp định, VNDCCH đã gián tiếp công nhận QGVN thay mặt Pháp quản lý lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở về Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa :
Tháng 4-1956, Hải quân VNCH tiếp quản nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa từ Pháp.
Ngày 1-6-1956, Ngoại trưởng VNCH Vũ Văn Mẫu tuyên bố tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 22-8-1956, Hải quân VNCH đổ bộ quân tiếp quản một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, dựng cờ và bia chủ quyền.
Ngày 22-10-1956, Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm đã ký Sắc lệnh số 143-NV về việc đổi tên các tỉnh thành miền Nam Việt Nam, quy định Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy.
Ngày 21-2-1959, 82 lính Trung Quốc đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng và Quang Hòa, đã bị lực lượng VNCH đóng trên các đảo bắt giữ. Ngoài ra, lực lượng VNCH còn bắt giữ 5 tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc. Số lính và tàu này sau đó được trao trả cho Trung Quốc.
Ngày 13-7-1961, Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 174-NV sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào xã Định Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Năm 1963, VNCH đã tiến hành dựng bia chủ quyền trên các đảo Trường Sa (19-5), An Bang (20-5), Thị Tứ - Loại Ta (22-5) và Song Tử Đông - Song Tử Tây (24-5).
Ngày 21-10-1969, Thủ tướng VNCH Trần Thiện Khiêm đã ký Nghị định số 709-BNV/HCĐP “Sáp nhập xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam vào xã Hòa Long cùng quận”.
Ngày 13-7-1971, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm đã khẳng định lại về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa tại Hội nghị ASPEC Manila.
Ngày 6-9-1973, VNCH ban hành Nghị định số 420-BNV/HCĐP/26 quy định các đảo của quần đảo Trường Sa thuộc xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã có lực lượng đóng quân tại một số đảo và đá thuộc quần đảo Trường Sa, chủ yếu bao gồm một tiểu đoàn địa phương quân và một số đơn vị bộ binh nhỏ. Lực lượng chính là Tiểu đoàn 371 địa phương quân Phước Tuy, với tổng cộng 163 sĩ quan và binh lính.. Lực lượng này được bố trí trên 5 đảo quan trọng bao gồm: Đảo Nam Yết (chỉ huy sở), Đảo Song Tử Tây, Đảo Sơn Ca, Đảo Sinh Tồn và Đảo Trường Sa. Tuy nhiên, lực lượng này đã tan rã sau 30/4/1975.(https://lyluanchinhtri.vn/su-tiep-noi-chu-quyen-viet-nam-doi-voi-hai-quan-dao-hoang-sa-va-truong-sa-731.html )
Sau biến cố Hoàng Sa, trong những ngày tháng thập tử nhất sinh của VNCH hồi 1974 - 1975, tổng thống Nguyễn văn Thiệu vẫn không quên ra lệnh điều động địa phương quân bổ sung cho các lực lượng đóng quân tại quần đảo Trường Sa. Người Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam từ 1973, nhưng biển Đông là sợi dây kết nối giữa Mỹ và các đồng minh Nhật bản, Đài loan, Hàn quốc, Philippines và là nơi hoạt động của Đệ thất hạm đội thuộc hải quân Mỹ. Vì thế ...
"Nước Mỹ thời Biden khẳng định đây là khu vực Mỹ có lợi ích “sống còn”, không khu vực vào khác có ý nghĩa như Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, thịnh vượng “của mọi người dân Mỹ” đều gắn với Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, theo đó Mỹ chỉ ổn định khi an ninh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương được đảm bảo. Các khu vực khác, nhất là châu Âu và Bắc Cực, đều được xem xét trong mối liên hệ với Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Cụ thể Chiến lược An ninh Quốc gia của Hoa Kỳ 2022 lần đầu khẳng định an ninh châu Âu và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương “đan xen” và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là “tiêu điểm” của địa-chính trị thế kỷ 21. Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của chính quyền Biden cũng khẳng định việc đồng minh và đối tác của Mỹ tại châu Âu hướng về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là xu thế tất yếu dù chiến sự Ukraine còn tiếp diễn".(https://nghiencuubiendong.vn/tong-quan-cac-van-ban-chinh-sach-ve-an-do-duong-thai-binh-duong-cua-chinh-quyen-biden-nam-2022.56481.anews)
Nhà nước Việt Nam hiện nay chỉ mới bắt đầu cải tạo bồi đắp các hòn đảo ở quần đảo Trường Sa kể từ năm 2021, với tầm nhìn địa chính trị, không thể cho rằng việc bồi đắp xây dựng đảo của Việt Nam không liên quan đến tầm nhìn chiến lược của Mỹ, vì như video bên dưới với tựa đề "Việt Nam vượt mặt Trung Quốc trong khi thế giới đang theo dõi" cho thấy rằng việc bồi đắp đảo ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam là một mắt xích trong ván cờ địa chính trị mang tầm toàn cầu....
Việt Nam vượt mặt Trung Quốc trong khi thế giới đang theo dõi.
Phụ đề Việt ngữ Trần HSa, giọng đọc Hoài My / Internet.
T HSa...18/11/2025.
